1. (67) Tình yêu thương đã tạo nên ta như chính nó.
Ta giống Đấng tạo dựng của mình. Ta không thể khổ đau, ta không thể trải qua mất mát và ta không thể chết. Ta không phải là một cái thân. Ta sẽ nhận ra thực tại của mình ngày hôm nay. Ta sẽ không tôn thờ thần tượng, cũng không đề cao quan niệm về bản thân của riêng ta để thay thế Ngã của mình. Ta giống Đấng tạo dựng của ta. Tình yêu thương đã tạo nên ta như chính nó.
2. Anh em có thể thấy những hình thức cụ thể sau hữu ích khi áp dụng ý tưởng:
Đừng để ta nhìn thấy ảo tưởng về mình trong điều này.
Khi ta nhìn vào điều này, hãy để ta nhớ đến Đấng tạo dựng của mình.
Đấng tạo dựng của ta không tạo ra điều này như ta thấy.
3. (68) Tình yêu thương không có sự bất bình.
Sự bất bình hoàn toàn xa lạ với tình yêu thương. Sự bất bình tấn công tình yêu thương và che khuất ánh sáng của nó. Nếu ta còn bất bình ta đang tấn công tình yêu thương, và vì vậy tấn công Ngã của mình. Ngã của ta vì thế trở nên xa lạ với ta. Ta quyết tâm không tấn công Ngã của ta ngày hôm nay, để ta có thể nhớ lại ta là Ai.
4. Những hình thức cụ thể sau sẽ hữu ích để áp dụng ý tưởng này:
Đây không phải là lời biện minh cho việc phủ nhận Ngã của ta.
Ta sẽ không sử dụng điều này để tấn công tình yêu thương.
-Tình yêu thương nói ở đây là tình yêu thương của Chúa, tình yêu thương hoàn hảo, hoàn toàn không có sự sợ hãi. Cái ta ảo tưởng không thể là tình yêu đó.
-Tình yêu thương luôn có mặt ở khắp mọi nơi. Khi ta không nhận ra sự có mặt của tình yêu thương, đó là vì nó bị che khuất khỏi nhận thức của ta. Chúng ta ai cũng cảm nhận được tình yêu thương hay lòng biết ơn hay cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên, đó là vì tình yêu thương thể hiện chính nó. Nên nhớ cái thân không cảm nhận mà chính tình yêu thương tự thể hiện qua cái thân. Trạng thái cảm giác đó chính là cái biết trực tiếp rằng ta là tình yêu thương. Khi ta ở trong cảm giác đó, khi ta chúng ta cùng chia sẻ cảm giác đó thì trong khoảng khắc đó cái tôi không tồn tại. Đó là điều cái tôi sợ hãi.
Ta càng thực hành sự tha thứ và nhìn thấy mọi thứ chỉ là biểu hiện của tình yêu thương hoặc là tiếng kêu gọi của tình yêu thương và vì đó là tiêng kêu cầu yêu thương nên ta chỉ có thể đap lại bằng tình yêu thương, và ta càng để tình yêu thương tràn ngập trong ta và mở rộng qua ta thì càng nhận ra ta chính là tình yêu đó.
-Tình yêu thương không thể bị đe dọa, nó không thể bị tổn thương. Nó không sinh ra và chết đi, nó vĩnh cữu. Nó không thể khổ đau và mất mát vì nó là tất cả. Cảm giác thiếu tình thương hay sợ hãi chỉ có thể xảy ra khi ta nghĩ rằng ta có thể rời khỏi nó. Đó chỉ có thể là một ý nghĩ, một niềm tin vì đó là điều không thể.
-Tình yêu thương chỉ có thể là chính nó, không thể là cái gì khác. Nó chỉ biết chính nó và cho đi chính nó, nó không cần điều gì khác phải thay đổi và không yêu cầu điều gì. Tình yêu thương không có sự bất bình.
1. (65) Chức năng duy nhất của ta là chức năng mà Chúa đã ban cho ta.
Ta không có chức năng nào ngoài chức năng mà Chúa đã ban cho ta. Nhận ra điều này giải phóng ta khỏi mọi xung đột, bởi vì nó có nghĩa là ta không thể có những mục tiêu xung đột nhau. Với một mục đích duy nhất, ta luôn biết chắc phải làm gì, nói gì và nghĩ gì. Mọi nghi ngờ phải tan biến khi ta thừa nhận rằng chức năng duy nhất của ta là chức năng mà Chúa đã ban cho ta.
2. Những áp dụng cụ thể hơn của ý tưởng này có thể có những dạng sau:
Nhận thức của ta về điều này không làm thay đổi chức năng của ta.
Điều này không mang lại cho ta chức năng nào khác ngoài chức năng mà Chúa đã ban cho ta.
Đừng để ta sử dụng điều này để biện minh cho một chức năng mà Chúa không giao cho ta.
3. (66) Hạnh phúc của ta và chức năng của ta là một.
Tất cả những gì đến từ Chúa đều là một. Chúng đến từ sự Đồng nhất, và phải được đón nhận như một. Hoàn thành chức năng của ta là hạnh phúc của ta vì cả hai đều đến từ cùng một Nguồn. Và ta phải học cách nhận ra điều gì khiến ta hạnh phúc, nếu ta muốn tìm thấy hạnh phúc.
4. Một số dạng hữu ích để áp dụng cụ thể ý tưởng này là:
Điều này không thể tách rời hạnh phúc của ta khỏi chức năng của ta.
Sự đồng nhất của hạnh phúc và chức năng của ta vẫn hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi điều này.
Không có gì, kể cả điều này, có thể biện minh cho ảo tưởng về hạnh phúc ngoài chức năng của ta.
-Ta chỉ có một chức năng duy nhất mà Chúa đã ban cho ta, đó là sự tha thứ. Ta không có chức năng nào khác. Trách nhiệm của ta không phải là phán xét mà là mở rộng tình yêu thương. Điều này như gở bỏ gánh nặng to lớn trên vai ta. Ta không còn những mục tiêu mâu thuẫn nhau. Không có gì để tìm kiếm, không có gì để nỗ lực đạt được. Ta chỉ đơn giản tha thứ cho những ảo tưởng và cho phép nhận thức thực sự đến với ta. Khi đó niềm vui và bình yên sẽ đến thay cho lo lắng và căng thẳng. Và khi ta hoàn thành chức năng của mình, mọi thứ khác sẽ được thực hiện cho ta.
-Ý Chúa là ta tha thứ vì mọi thứ ta thấy là không có thật. Cái tôi muốn khẳng định mình một cách độc lập. vì vậy để biện minh cho một chức năng mà Chúa không trao cho ta sẽ là, ồ ta đang nhìn thấy thứ gì đó có thật, ta gán cho nó một giá trị, ta quyết định những gì cần phải làm và ta sẽ thất bại vì tất cả ý muốn ngoài Chúa đều sai lầm và phải kết thúc trong thất bại.
-Cái tôi tin rằng hoàn thành các mục tiêu của nó là hạnh phúc. Các mục tiêu của nó mà ta theo đuổi rất sốt sắng không thực sự đem lại hạnh phúc vì thế giới không phải là một nơi hạnh phúc. Ta luôn nhầm lẫn giữa nỗi đau và niềm vui thực sự vì nếu biết được ta đã không còn khổ đau. Ta không nhận ra nỗi đau và niềm vui của thế gian là một. Chức năng của Chúa là của ta và chỉ khi ta thực hiện chức năng đó, ta mới có thể tìm thấy hạnh phúc thực sự cho mình và cho tất cả. Đó là hạnh phúc được chia sẻ, luôn tràn đầy và không bao giờ suy giảm.
1. (63) Ánh sáng của thế giới mang lại bình yên cho mọi tâm qua sự tha thứ của ta
Sự tha thứ của ta là phương tiện để ánh sáng của thế giới được thể hiện qua ta. Sự tha thứ của ta là phương tiện để ta nhận thức được được ánh sáng của thế giới trong ta. Sự tha thứ của ta là phương tiện để thế giới được chữa lành cùng với chính ta. Vậy hãy để ta tha thứ cho thế giới, để nó có thể được chữa lành cùng với ta.
2. Những hình thức gợi ý cụ thể để áp dụng ý tưởng này là:
Hãy để sự bình yên mở rộng từ tâm tôi đến tâm bạn, [tên].
Tôi chia sẽ ánh sáng của thế giới với bạn, [tên].
Thông qua sự tha thứ của mình, ta có thể thấy điều này như nó là.
3. (64) Đừng để ta quên chức năng của ta.
Ta sẽ không quên chức năng của ta, vì ta sẽ nhớ đến Ngã của mình. Ta không thể hoàn thành chức năng của ta nếu ta quên nó. Và trừ khi ta thực hiện chức năng của mình, ta sẽ không cảm nhận được niềm vui mà Chúa dành cho ta.
4. Những hình thức cụ thể phù hợp của ý tưởng này bao gồm:
Hãy để ta không sử dụng điều này để che giấu chức năng của ta với ta.
Ta sẽ dùng điều này như một cơ hội để thực hiện chức năng của mình.
Điều này có thể đe dọa cái tôi của ta, nhưng không thể thay đổi chức năng của ta dưới bất kỳ cách nào.
-Ta tha thứ cho thế giới để nó có thể được chữa lành cùng với ta. Thế giới mà ta nhìn thấy là sự phóng chiếu từ lăng kính của cái tôi tin rằng ta tách biệt khỏi Nguồn của mình và mặc cảm tội lỗi phát sinh từ đó ngự trị trong tâm ta. Và vì vậy ta cần phóng chiếu ra ngoài để thấy rằng mọi tội lỗi, mọi vấn đề là ở ngoài kia, không phải ở trong tâm ta. Do đó, điều ta cần tha thứ là niềm tin sai lầm rằng ta tách biệt. Đó là vấn đề duy nhất của thế gian, một vấn đề, một giải pháp. Mừng thay, nó đã được trả lời rằng đó là điều không thể. Đó là lý do tại sao mọi thứ ta thấy chỉ là ảo tưởng. Và chính sự tha thứ cho những ảo tưởng của ta giúp ta nhìn thấy thế giới thật. Đó là sư tha thứ chữa lành cho tâm ta, và vì chỉ có một tâm nên tất cả đều được chữa lành.
-Bất cứ khi nào ta bị kích hoạt, tức giận hay bất bình, đó là cơ hội để ta tha thứ. Không có chuyện gì xảy ra với ta, mọi thứ đến với ta đều là để chữa lành tâm của chúng ta. Nhớ rằng mỗi quyết định ta đưa ra hoặc là sự bất bình hoặc là một phép lạ. Khi ta chọn sự phẩn nộ, ta đã rơi vào tầng sâu của cái tôi, ta đã từ chối phép lạ. Khi kịp nhận ra mình bị kích hoạt, hãy nói ngay ta muốn phép lạ, và điều này khiến mọi việc diễn ra dễ dàng hơn rất nhiều.
-Ta phải nhớ chức năng của mình đó là sự tha thứ. Việc chấp nhận chức năng của ta sẽ dẫn đến ký ức về Chúa, về Ngã của ta là tâm Christ, cuối cùng ta sẽ kết thúc với những giọt nước mắt biết ơn, và cảm giác yêu thương sâu sắc nhất, đó là phép lạ đang chờ đợi ta.
Những ý tưởng của chúng ta để ôn tập ngày hôm nay là:
(61) Ta là ánh sáng của thế giới.
1. Ta thánh khiết biết bao, người được giao chức năng thắp sáng thế giới! Hãy để ta yên lặng trước sự thánh khiết của ta. Trong ánh sáng êm dịu của nó hãy để mọi xung đột của ta biến mất. Trong sự bình yên của nó hãy để ta nhớ lại ta là Ai.
2. Một số hình thức cụ thể để áp dụng ý tưởng này khi gặp những khó khăn đặc biệt có thể là:
Hãy để ta đừng che khuất áng sáng của thế giới trong ta.
Hãy để ánh sáng của thế giới chiếu sáng qua hiện tướng này.
Cái bóng này sẽ tan biến trước ánh sáng.
(62) Tha thứ là chức năng của ta với tư cách là ánh sáng của thế giới.
3. Nhờ việc chấp nhận chức năng của mình mà ta sẽ thấy ánh sáng trong ta. Và trong ánh sáng này, chức năng của ta sẽ trở nên rõ ràng và hoàn toàn không mơ hồ trước cái nhìn của ta. Sự chấp nhận của ta không phụ thuộc vào việc ta nhận ra chức năng của ta là gì, vì ta chưa hiểu được sự tha thứ. Tuy nhiên, ta sẽ tin tưởng rằng trong ánh sáng ta sẽ thấy nó như nó thực sự là.
4. Những hình thức cụ thể để sư dụng ý tưởng này có thể bao gồm:
Hãy để điều này giúp ta học được tha thứ có nghĩa là gì.
Hãy để ta đừng tách rời chức năng của ta khỏi ý muốn của ta
Ta sẽ không sử dụng điều này cho một mục đích xa lạ.
-Những hình thức áp dụng cụ thể cho những khoảng thời gian thực tập ngắn chỉ là những gợi ý. Những lời cụ thể mà ta sử dụng không quan trọng mà chính là ý định dưới những lời này hay nội dung của chúng mới quan trọng.
-Có một sự truyền tải trực tiếp dưới những lời trong bài học. Và nếu ta mở lòng ra, ta sẽ cham được những thông điệp trong đó và chúng sẽ tự giải mã khi ta thực tập. Ta sẽ cảm nhận được chúng.
-Nếu ta cứng nhắc về những bài học này, cố gắng để được hoàn hảo, ta sẽ không cởi mở và đón nhận. Hãy cảm nhận có một Người thầy bên trong cầm tay ta và dẫn ta đi qua những việc này. Hãy tin vào Người thầy bên trong, đó là cách chúng ta sẽ đi. Và khi ta tin, ta sẽ cởi mở cho sự truyền tải sâu hơn, ta sẽ nhận được một thông điệp thay vì chỉ là một câu mà ta chăm chú vào.
-Lưu ý rằng ta nói trong những bài này không phải là cái tôi. Cái tôi có thể nói Chúa là Đáng thánh , Christ là Đấng thánh, Thánh Linh hay Người thầy bên trong là Đấng thánh và ta tách biệt với các Ngài, ta không thể thánh khiết. Cái tôi không biết ta thực sự là gì nên nó không biết sự thánh khiết hay sự vô tội của ta.
-Hiện tướng bên ngoài chỉ là một hình ảnh sai lầm, một cái bóng trong tâm ta. Hình ảnh này, cái bóng này sẽ tan biến trước ánh sáng ở trong ta.
-Ta chỉ có thể đứng trong sự thật mà tha thứ như là ánh sáng của thế giới. Ta không thể tha thứ như một cá nhân, một cái ngã riêng biệt ảo tưởng vì sự thật không có ai tha thứ, không có người nào được tha thứ, không có ai ở đây đê tha thứ vì không có cái gọi là ở đây. Tất cả chỉ là ảo tưởng, không có thật.
1. Chúng ta bây giờ đã sẵn sàng cho một kỳ ôn tập khác. Chúng ta sẽ bắt đầu từ phần ôn tập cuối cùng của chúng ta, và đề cập đến hai ý tưởng mỗi ngày. Phần đầu của mỗi ngày sẽ được dành cho một trong những ý tưởng này, và phần sau dành cho ý tưởng còn lại. Chúng ta sẽ có một buổi thực tập dài, và những khoảng thời gian thực tập ngắn thường xuyên trong đó chúng ta thực tập một ý tưởng.
2. Những buổi thực tập dài sẽ theo hình thức chung này: Dành khoảng mười lăm phút cho mỗi buổi, và bắt đầu bằng việc suy nghĩ về các ý tưởng trong ngày, cũng như phần nhận xét có trong bài tập. Dành khoảng ba hay bốn phút để đọc chúng một cách chậm rãi, một vài lần nếu anh em muốn, sau đó nhắm mắt lại và lắng nghe.
3. Lặp lại giai đoạn đầu của buổi luyện tập nếu anh em thấy tâm mình lang thang, nhưng cố gắng dành phần lớn thời gian để lắng nghe trong yên lặng nhưng chăm chú. Có một thông điệp đang chờ anh em. Hãy tự tin rằng anh em sẽ nhận đươc nó. Nhớ rằng nó thuộc về anh em và anh em muốn nó.
4. Đừng để ý định của anh em bị lung lay trước những suy nghĩ xao lãng. Hãy nhận ra rằng dù những suy nghĩ này có thể ở dạng nào, chúng đều không có ý nghĩa và không có sức mạnh. Hãy thay thế chúng bằng quyết tâm thành công của anh em. Đừng quên rằng ý muốn của anh em có sức mạnh vượt qua mọi tưởng tượng và ước mơ. Hãy tin tưởng nó sẽ đồng hành cùng anh em, và đưa anh em vượt qua tất cả.
5. Hãy xem những buổi thực tập này là sự cống hiến cho đường đi, sự thật và sự sống. Đừng để bị lạc vào những con đường vòng, những ảo tưởng và những ý nghĩ về cái chết. Anh em dành hết cho sự cứu rỗi. Hãy quyết tâm mỗi ngày để không bỏ dở chức năng của mình.
6. Khẳng định lại quyết tâm của anh em trong những khoảng thời gian thực tập ngắn, sử dụng hình thức ban đầu của ý tưởng cho những áp dụng chung, và những hình thức cụ thể hơn khi cần. Một số hình thức cụ thể có trong phần nhận xét theo sau phần phát biểu ý tưởng. Tuy nhiên đây chỉ là những gợi ý. Không phải những lời cụ thể anh em sử dụng là quan trọng.
-Phần lớn thời gian thực tập là dùng để lắng nghe. Nếu tâm lan man, đừng tự phán xét mình, hãy nhẹ nhàng tử tế với chính mình. Đừng để cảm giác tội lỗi tăng lên sẽ ngăn cản ta đi sâu vào bài học. Cái tôi có thể xen vào và cản trở sự thực tập mà mục đích cuối cùng là làm tan biến cái tôi. Có thể tự nhủ, ta chấp nhận bản thân mình chỉ như Người đã tao ra ta và cảm nhận sự thánh khiết ở trong ta. Và nếu đó thực sự là lòng mong muốn của ta, nó sẽ xóa đi những nổ lực của cái tôi nhằm khiến ta cảm thấy tội lỗi.
1. Nếu anh em sẵn sàng thừa nhận vấn đề của mình, anh em sẽ nhận ra rằng anh em không có vấn đề gì. Vấn đề trọng tâm duy nhất của anh em đã được giải đáp, và anh em không còn vấn đề nào khác. Vì vậy, anh em phải được bình an. Sự cứu rỗi do đó phụ thuộc vào việc nhận ra một vấn đề này, và hiểu rằng nó đã được giải quyết. Một vấn đề, một giải pháp. Sự cứu rỗi đã được hoàn thành. Sự tự do khỏi xung đột đã được ban cho anh em. Hãy chấp nhận sự thật đó và anh em đã sẵn sàng đảm nhận vị trí xứng đáng của mình trong kế hoạch cứu rỗi của Chúa.
2. Vấn đề duy nhất của anh em đã được giải quyết! Hãy lặp đi lặp lại điều này với chính mình ngày hôm nay, với lòng biết ơn và niềm tin chắc chắn. Anh em đã nhận ra vấn đề duy nhất của mình, mở đường cho Thánh Linh ban cho anh em câu trả lời của Chúa. Anh em đã gạt bỏ sự lừa dối và nhìn thấy ánh sáng của sự thật. Anh em đã chấp nhận sự cứu rỗi cho chính mình bằng cách đưa vấn đề đến với câu trả lời. Và anh em có thể nhận ra câu trả lời, bởi vì vấn đề đã được xác định.
3. Anh em có quyền được bình yên ngày hôm nay. Một vấn đề đã được giải quyết không thể làm anh em lo lắng. Chỉ cần chắc chắn rằng anh em không quên mọi vấn đề đều giống nhau. Nhiều hình thức của chúng sẽ không đánh lừa được anh em khi anh em ghi nhớ điều này. Một vấn đề, một giải pháp. Hãy chấp nhận sự bình yên mà câu nói đơn giản này mang lại.
4. Trong các buổi thực tập dài ngày hôm nay, chúng ta sẽ yêu cầu sự bình yên vốn phải là của chúng ta khi vấn đề và câu trả lời đã được đem lại với nhau. Vấn đề phải không còn nữa, vì câu trả lời của Chúa không thể thất bại. Đã nhận ra cái này, anh em cũng nhận ra cái kia. Giải pháp vốn có trong vấn đề. Anh em đã được trả lời, và đã chấp nhận câu trả lời. Anh em đã được cứu.
5. Bây giờ hãy để sự bình yên mà sự chấp nhận của anh em mang lại được ban cho anh em. Nhắm mắt lại, và nhận phần thưởng của mình. Nhận ra rằng vấn đề của anh em đã được giải quyết. Nhận ra rằng anh em không còn xung đột; tự do và bình yên. Trên hết, hãy nhớ rằng anh em có một vấn đề, và vấn đề đó có một giải pháp. Tính đơn giản của sự cứu rỗi nằm ở chỗ này. Và chính vì điều này mà nó được đảm bảo có kết quả.
6. Hôm nay hãy thường xuyên đảm bảo với chính mình rằng các vấn đề của anh em đã được giải quyết. Lặp lại ý tưởng với niềm tin sâu sắc, thường xuyên nhất có thể. Và hãy đặc biệt chắc chắn áp dụng ý tưởng của ngày hôm nay cho bất kỳ vấn đề cụ thể nào có thể phát sinh. Hãy nhanh chóng nói ngay:
Hãy để ta nhận ra vấn đề này đã được giải quyết.
7. Chúng ta hãy quyết tâm không thu thập những bất bình ngày hôm nay. Chúng ta hãy quyết tâm thóat khỏi những vấn đề không tồn tại. Phương tiện là sự trung thực đơn giản. Đừng tự lừa dối mình về vấn đề là gì và anh em phải nhận ra rằng nó đã được giải quyết.
-Nhận ra vấn đề của ta đã được giải quyết, ta không còn vấn đề gì vi vậy ta phải được bình an. Điều này có thể có ích khi ta sẵn sàng hình dung rằng ta không có vấn đề gì. Nhờ ân điển của Chúa, ý muốn của Người, mọi vấn đề sẽ không tồn tại và ta đã chấp nhận câu trả lời duy nhất rằng ta không phải là cái thân. Ta mở rộng tâm để tin rằng ta là con Chúa, hoàn hảo, không thể phá hủy, không thể bị tổn thương và tràn đầy tình yêu thương, hạnh phúc, niềm vui, sức khỏe. Ta hảy tưởng tượng và chỉ nhìn vào điều này.
-Điều quan trọng là phải chấp nhận sự bình yên do việc sự thật này mang lại và đó không phải là một công việc hiểu biết, nó có nghĩa là đi vào bên trong và hầu hết chúng ta, thông qua cái tôi đều sợ hãi khi đi vào bên trong. Và điều chúng ta sợ nhất là Chúa hay tình yêu thương trong hình thức bình yên bởi vì khi chúng ta đi vào sự bình yên bên trong đó và chúng ta chấp nhận sự chuộc lỗi, điều xảy ra là vào thời điểm đó, khoảnh khắc thánh đó, cái tôi không còn tồn tại trong nhận thức của chúng ta. Và đó là lý do tại sao cái tôi phải chống lại việc chúng ta chấp nhận câu trả lời rằng mọi vấn đề của chúng ta đã được giải quyết.
-Mọi vấn đề đếu giống nhau. Mọi vấn đề đều là ảo tưởng và không có thứ bậc trong ảo tưởng. Tất cả ảo tưởng đều giống nhau, đều là ảo tưởng.
-Chi có một vấn đề và vấn đề đó đã được giải quyết. Đó là câ trả lời của Chúa cho ý tưởng về sự tách biệt. Ta đã quên câu trả lời đó và cái tôi rất bận rộn tìm cách sửa chữa những vấn đề không có thực ở bên ngoài tâm.
1. Một vấn đề không thể được giải quyết nếu anh em không biết nó là gì. Ngay cả khi nó thực sự đã được giải quyết anh em vẫn sẽ có vấn đề, bởi vì anh em sẽ không nhận ra rằng nó đã được giải quyết. Đây là tình trạng của thế giới. Vấn đề tách biệt, thực sự là vấn đề duy nhất, đã được giải quyết. Tuy nhiên, giải pháp không được nhận ra vì vấn đề không được nhận ra.
2. Mọi người trên thế giới này dường như có những vấn đề đặc biệt của riêng mình. Tuy nhiên, tất cả chúng đều giống nhau, và phải được nhận ra là một nếu giải pháp duy nhất giải quyết được tất cả chúng được chấp nhân. Ai có thể thấy rằng một vấn đề đã được giải quyết nếu anh ấy nghĩ vấn đề đó là một cái gì đó khác? Ngay cả khi anh ấy được đưa cho câu trả lời, anh ấy cũng không thể thấy được sự liên quan của nó.
3. Đó là tình thế hiện tại của anh em. Anh em có câu trả lời, nhưng anh em vẫn không chắc chắn vấn đề là gì. Một loạt các vấn đề khác nhau dường như đối mặt với anh em, và khi một vấn đề được giải quyết thì vấn đề tiếp theo và những vấn đề tiếp theo lại nảy sinh. Dường như không có kết thúc đối với chúng. Không có lúc nào anh em cảm thấy hoàn toàn thoát khỏi các vấn đề và được bình yên.
4. Cám dỗ xem vấn đề là nhiều cũng là cám dỗ để giữ cho vấn đề tách biệt không được giải quyết. Thế giới dường như đặt ra cho anh em vô số vấn đề, mỗi vấn đề đòi hỏi một câu trả lời khác nhau. Nhận thức này đặt anh em vào một tình thế mà việc giải quyết vấn đề của anh em phải là không thỏa đáng, và thất bại là điều không thể tránh khỏi.
5. Không ai có thể giải quyết tất cả các vấn đề mà thế giới dường như đang gặp phải. Chúng dường như ở rất nhiều cấp độ, dưới nhiều hình thức khác nhau và với nội dung đa dạng đến mức chúng khiến anh em phải đối mặt với một tình thế bế tắc. Mất tinh thần, chán nản là điều không thể tránh khỏi khi anh em xem xét chúng. Một số bất ngờ xuất hiện, ngay khi anh em nghĩ anh em đã giải quyết xong những vấn đề trước. Những vấn đề khác vẫn chưa được giải quyết dưới đám mây phủ nhận, và thỉnh thoảng hiện lên ám ảnh anh em, chỉ để rồi ẩn đi một lần nữa mà vẫn chưa được giải quyết.
6. Tất cả sự phức tạp này chỉ là một nỗ lực vô vọng để không nhận ra vấn đề, và vì vậy không để nó được giải quyết. Nếu anh em có thể nhận ra rằng vấn đề duy nhất của anh em là sự tách biệt, bất kể nó mang hình thức nào, anh em có thể chấp nhận câu trả lời vì anh em sẽ thấy được sự liên quan của nó. Nhận thức được tính không đổi tiềm ẩn trong tất cả các vấn đề mà anh em dường như đang đối mặt, anh em sẽ hiểu rằng anh em có phương tiện để giải quyết tất cả chúng. Và anh em sẽ sử dụng phương tiện này vì anh em nhận ra vấn đề.
7. Trong các buổi thực tập dài ngày hôm nay chúng ta sẽ hỏi vấn đề là gì, và câu trả lời cho nó là gì. Chúng ta sẽ không cho rằng chúng ta đã biết. Chúng ta sẽ cố gắng giải phóng tâm của mình khỏi tất cả các loại vấn đề khác nhau mà ta nghĩ mình đang gặp phải. Chúng ta sẽ cố gắng nhận ra rằng chúng ta chỉ có một vấn đề mà chúng ta đã không nhận ra. Chúng ta sẽ hỏi nó là gì, và chờ đợi câu trả lời. Chúng ta sẽ được cho biết. Sau đó chúng ta sẽ cầu xin giải pháp cho vấn đề đó. Và chúng ta sẽ được cho biết.
8. Bài tập hôm nay sẽ thành công nếu anh em không nhất quyết phải xác định vấn đề. Có lẽ anh em sẽ không thành công trong việc buông bỏ mọi định kiến của mình, nhưng điều đó không cần thiết. Tất cả những gì cần thiết là anh em cần nghi ngờ về tính thực tại của cách anh em nhìn nhận vấn đề của anh em là gì. Anh em đang cố gắng nhận ra rằng anh em đã được đưa cho câu trả lời bằng cách nhận ra vấn đề, để vấn đề và câu trả lời được đưa lại với nhau và anh em có thể bình yên.
9. Những khoảng thời gian thực tập ngắn cho ngày hôm nay sẽ không được ấn định theo thời gian, mà theo nhu cầu. Anh em sẽ gặp nhiều vấn đề ngày hôm nay, mỗi vấn đề đòi hỏi một câu trả lời. Những nỗ lực của chúng ta sẽ hướng tới việc nhận ra rằng chỉ có một vấn đề và một câu trả lời. Khi nhận ra điều này mọi vấn đề đều được giải quyết. Khi nhận ra điều này sẽ có được bình yên.
10. Đừng để bị lừa dối bởi hình thức của các vấn đề ngày hôm nay. Bất cứ khi nào có bất kỳ khó khăn nào dường như xuất hiện, nhanh chóng nói với chính mình
Hãy để ta nhận ra vấn đề này để nó có thể được giải quyết.
Sau đó cố gắng ngừng mọi phán xét về vấn đề là gì. Nếu có thể, hãy nhắm mắt lại một lúc và hỏi nó là gì. Anh em sẽ được nghe thấy và anh em sẽ được trả lời.
-Vấn đề duy nhất là chúng ta tin rằng chúng ta là một cái thân chứ không phải là một tinh thần vĩnh cửu không thể hủy diệt như chúng ta thực sự là. Và với ý tưởng về một cái thân cũng nảy sinh ý tưởng rằng chúng ta cũng là một tâm riêng tư bị giam cầm trong một thân xác. Đó là vấn đề duy nhất mà chúng ta gặp phải. Tất cả vấn đề mà ta dường như đối mặt đều liên quan đến cái thân. Đó là thần tượng được yêu quý nhất của ta trong giấc mơ này. Mọi quyết định chúng ta đưa ra, trong các mối quan hệ của chúng ta với con cái, cha mẹ, công việc hay bất cứ điều gì, ăn uống, tập thể dục, tất cả đều liên quan đến cái thân.
-Nếu ta thực sự biết rằng ta không phải là thân xác, nếu ta biết danh tính thực sự của mình và nó được chia sẻ như là Christ với tất cả anh chị em của mình, nếu ta biết rằng không có sự tách biệt giữa ta và Chúa, nếu ta mở lòng đón nhận tình yêu thương rằng ta là đứa con yêu dấu của Người thì sẽ không còn gì phải lo lắng bởi vì ngay cả khi ta dường như ở trong một cái thân, ta sẽ không quan tâm đến nó vì đó không phải là ta.
-Một vấn đề sẽ xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và nó sẽ luôn xuất hiện như vậy khi vấn đề đó vẫn còn kéo dài. Vấn đề sẽ không được giải quyết nếu chỉ cố gắng giải quyết nó ở dạng đặc biệt. Nó sẽ tái diễn và tái diễn cho đến khi nó được trả lời vĩnh viễn và chỉ khi ấy ta mới được giải thoát khỏi nó.
-Một vấn đề duy nhất đó là sự tách biệt, niềm tin vào sự tách biệt khỏi Nguồn của mình, đó là tình yêu thương, và rằng ta là một cái thân. Cái thân chính là hiện thân của sự tách biệt. Và câu trả lời cho nó chính là trạng thái cảm nhận được sự bình an dù chỉ là một khoảnh khắc trong đó Thánh Linh mang lại phép lạ để giải quyết ván đề mà ta tin vào sự tách biệt rằng ta là một cái thân và tất cả những hệ quả của nó, sự phóng chiếu các vấn đề của cái tôi. Ngài có thể chữa lành tất cả chúng trong khoảnh khắc thánh đó của sự chấp nhận. Câu trả lời đã thực hiện rồi, ý muốn của Chúa đã xong, vì vậy thực sự không có gì phải sửa chữa.
1. Có lẽ anh em vẫn chưa hiểu rõ rằng mỗi quyết định mà anh em đưa ra là một quyết định giữa sự bất bình và phép lạ. Mỗi nỗi bất bình đứng như một lá chắn đen tối của sự hận thù trước phép lạ mà nó muốn che giấu. Và khi anh em giơ nó lên trước mắt anh em, anh em sẽ không nhìn thấy phép lạ ở bên kia. Tuy nhiên, trong khi nó vẫn chờ đợi anh em trong ánh sáng, nhưng thay vào đó anh em lại nhìn thấy sự bất bình của mình.
2. Hôm nay chúng ta vượt qua sự bất bình để nhìn vào phép lạ thay vào đó. Chúng ta sẽ đảo ngược cách anh em nhìn thấy bằng cách không để cho cái nhìn dừng lại trước khi nó nhìn thấy. Chúng ta sẽ không chờ đợi trước lá chắn hận thù, nhưng đặt nó xuống và nhẹ nhàng ngước mắt lên trong im lặng để nhìn thấy Con Chúa.
3. Anh ấy chờ đợi anh em đằng sau những lời bất bình của anh em, và khi anh em đặt chúng xuống anh ấy sẽ xuất hiện trong ánh sáng rực rỡ nơi mối bất bình đã đứng trước đó. Vì mọi sự bất bình đều là vật cản đối với cái nhìn, và khi nó được dỡ lên anh em nhìn thấy Con Chúa nơi anh ấy luôn ở đó. Anh ấy đứng trong ánh sáng, nhưng anh em ở trong bóng tối. Mỗi lời bất bình khiến cho bóng tối càng tối hơn, và anh em không thể nhìn thấy.
4. Hôm nay chúng ta sẽ cố gắng nhìn thấy Con Chúa. Chúng ta sẽ không để mình mù quáng trước anh ấy; chúng ta sẽ không nhìn vào những bất bình của mình. Vì vậy, cách nhìn thế giới được đảo ngược khi chúng ta nhìn hướng tới sự thật, tránh xa nỗi sợ hãi. Chúng ta sẽ chọn một người mà anh em đã sử dụng làm mục tiêu cho những bất bình của mình, và đặt sự bất bình sang một bên và nhìn vào anh ấy. Có lẽ ai đó anh em sợ hãi hay thậm chí căm ghét; một người anh em nghĩ mình thương yêu đã làm mình tức giận; một người anh em gọi là bạn, nhưng đôi lúc anh em thấy người đó khó tính hoặc khó chiều, đòi hỏi, khó chịu hay không đúng với lý tưởng mà anh ấy nên chấp nhận là của mình, theo vai trò mà anh em đặt ra cho anh ấy.
5. Anh em biết phải chọn ai; tên của anh ấy đã hiện ra trong tâm của anh em rồi. Anh ấy sẽ là người mà chúng ta cầu xin Con Chúa được hiển thị cho anh em. Qua việc nhìn thấy anh ấy đằng sau những bất bình mà anh em đã có đối với anh ấy, anh em sẽ biết được rằng những gì bị che giấu khi anh em không nhìn thấy anh ấy vẫn ở đó trong tất cả mọi người, và có thể được nhìn thấy. Anh ấy từng là kẻ thù trở thành hơn cả bạn bè khi anh ấy được tự do để đảm nhận vai trò thiêng liêng mà Thánh Linh đã giao cho anh ấy. Hãy để anh ấy trở thành cứu tinh cho anh em ngày hôm nay. Đó là vai trò của anh ấy trong kế hoạch của Chúa Cha của anh em.
6. Các buổi thực tập dài của chúng ta hôm nay sẽ nhìn anh ấy trong vai trò này. Anh em sẽ cố gắng giữ anh ấy trong tâm của mình, trước tiên như anh em đang nghĩ về anh ấy hiện nay. Anh em sẽ xem lại lỗi lầm của anh ấy, những khó khăn mà anh em gặp phải với anh ấy, nỗi đau mà anh ấy gây ra cho anh em, sự thờ ơ của anh ấy, và mọi tổn thương lớn nhỏ mà anh ấy đã gây ra. Anh em sẽ xem xét cái thân của anh ấy với những khuyết điểm cũng như những điểm tốt, đồng thời anh em sẽ nghĩ đến sai lầm của anh ấy và thậm chí cả “tội lỗi”của anh ấy.
7. Sau đó, chúng ta hãy cầu xin Ngài, Đấng thực sự biết Con Chúa trong thực tại của anh ấy, để chúng ta có thể nhìn anh ấy theo một cách khác, và thấy vị cứu tinh của ta chiếu sáng trong ánh sáng của sự tha thứ thực sự, được ban cho ta. Chúng ta cầu xin Ngài nhân Danh Chúa và Con của Người, thánh khiết như chính Người:
Xin cho con được nhìn thấy vị cứu tinh của con trong người này mà Ngài đã chỉ định để con cầu xin dẫn con đến ánh sáng thánh nơi anh ấy đang đứng, để con có thể hiệp nhất cùng anh ấy.
Mắt nhắm lại, và khi anh em nghĩ về người đã làm anh em đau buồn, hãy để tâm của anh em được nhìn thấy ánh sáng trong anh ấy vượt ra ngoài sự bất bình của anh em.
8. Những gì anh em yêu cầu không thể bị từ chối. Vị cứu tinh của anh em đã chờ đợi điều nay từ lâu. Anh ấy sẽ được tự do, và biến sự tự do của anh ấy thành của anh em. Thánh Linh nghiêng từ anh ấy sang anh em, không thấy sự tách biệt nào nơi Con Chúa. Và những gì anh em nhìn thấy qua Ngài sẽ giải phóng cả hai. Hãy thật yên lặng bây giờ, và nhìn vào vị cứu tinh tỏa sáng của anh em. Không có sự bất bình đen tối nào che khuất việc nhìn thấy anh ấy. Anh em đã để cho Thánh Linh thể hiện qua anh ấy vai trò mà Chúa đã giao cho Ngài để anh em có thể được cứu.
9. Chúa cảm ơn anh em vì những thời gian yên tĩnh này ngày hôm nay khi anh em đặt hình ảnh của mình sang một bên, và nhìn vào phép lạ của tình yêu thương mà Thánh Linh cho anh em thấy thay cho chúng. Thế giới và Thiên đường cùng nhau cảm ơn anh em, vì không một Ý nghĩ nào của Chúa mà không vui mừng khi anh em được cứu, và cả thế giới được cứu cùng anh em.
10. Chúng ta sẽ ghi nhớ điều này suốt cả ngày, và nhận lãnh vai trò được giao cho chúng ta như là một phần trong kế hoạch cứu rỗi của Chúa, chứ không phải của riêng chúng ta. Cám dỗ sẽ biến mất khi chúng ta cho phép mỗi người mà chúng ta gặp cứu chúng ta, và từ chối che giấu ánh sáng của họ đằng sau những bất bình của chúng ta. Đối với tất cả những người mà anh em gặp, và với những người anh em nghĩ đến hoặc nhớ lại từ trong quá khứ, hãy cho phép họ nhận vai trò của vị cứu tinh, để anh em có thể chia sẻ vai trò đó với họ. Đối với cả hai, và với tất cả những người chúng ta không nhìn thấy, chúng ta cầu nguyện:
-Mỗi quyết định mà ta đưa ra đều là một quyết định giữa sự bất bình và một phép lạ, giữa bóng tối và ánh sáng và không có gì ở giữa. Đó là lời tuyên bố quan trọng.
-Nếu ta đang ôm giữ sự bất bình hoặc oán giận, nếu ta bị kích hoạt bởi ai đó, ta đang không nhìn thấy họ mà đang thấy sự bất bình. Vì vậy, ta không nhìn thấy phép lạ đằng sau đó. Nó luôn có sẵn cho chúng ta nhưng chúng ta nói không với nó, và cách chúng ta nói không là chúng ta coi trọng những gì cái tôi đang nói với chúng ta, đó luôn là sự bất bình. Cái giá của sự bất bình là nó cản trở phép lạ. Ta không nhìn thấy anh em mình là ánh sáng, là Con Chúa.
-Khi chúng ta nhận trách nhiệm về sự bất bình và nhận ra rằng nó không liên quan gì đến anh em mình là ánh sáng, là Christ, ta đang ở điểm lựa chọn hoặc ta tôn thờ cái nhìn sai lầm và câu chuyện về anh em mình hoặc ta tôn thờ Chúa và muốn từ bỏ những phàn nàn đó và thay vào đó cầu xin được cho thấy phép lạ.
– Hãy để ta thấy Tình yêu trong Christ chiếu sáng qua anh em mình và sau đó khi chúng ta cho phép điều đó xảy ra, điều đó sẽ xảy ra bởi vì đó là ý muốn của Chúa, thì tình yêu và ánh sáng sẽ ló dạng trong tâm ta. Khi chúng ta nhìn thấy điều đó nơi anh em mình, chúng ta nhận ra rằng đó chính là chúng ta. Đó là lý do tại sao anh em của ta là vị cứu tinh thực sự của ta.
1. Anh em có quyền được phép lạ vì chính anh em là gì. Anh em sẽ nhận được phép lạ vì chính Chúa là gì. Và anh em sẽ mang lại phép lạ vì anh em là một với Chúa. Một lần nữa, sự cứu rỗi thật đơn giản làm sao! Nó chỉ đơn thuần là một tuyên bố về Danh tính thực sự của anh em. Đó là điều mà chúng ta sẽ ăn mừng ngày hôm nay.
2. Quyền được hưởng phép lạ của anh em không nằm ở ảo tưởng của anh em về bản thân. Nó không phụ thuộc vào bất kỳ năng lực phép thuật nào mà anh em đã gán cho chính mình, cũng không phụ thuộc vào bất kỳ nghi thức nào mà anh em đã nghĩ ra. Nó vốn có trong sự thật về anh em là gì. Nó ẩn chứa trong Chúa Cha của anh em là gì. Nó được bảo đảm trong sự tạo dựng nên anh em, và được đảm bảo bởi luật của Chúa.
3. Hôm nay chúng ta sẽ tuyên bố phép lạ là quyền của anh em, vì chúng thuộc về anh em. Anh em đã được hứa được giải thoát hoàn toàn khỏi thế giới mà anh em đã tạo ra. Anh em đã được đảm bảo rằng Nước Chúa ở trong anh em, và không bao giờ có thể bị mất. Chúng ta không yêu cầu nhiều hơn những gì thuộc về chúng ta trong sự thật. Tuy nhiên, hôm nay chúng ta cũng sẽ bảo đảm rằng chúng ta sẽ không tự hài lòng với những gì ít hơn.
4. Bắt đầu các buổi thực tập dài bằng cách tự tin nói với chính mình rằng anh em được quyền có phép lạ. Nhắm mắt lại, nhắc nhở bản thân rằng anh em chỉ đang yêu cầu những gì chính đáng thuộc về anh em. Cũng hãy nhắc nhở bản thân rằng phép lạ không bao giờ được lấy từ người này và trao cho người khác, và trong khi yêu cầu quyền của anh em, anh em đang bảo vệ quyền của mọi người. Phép lạ không tuân theo luật của thế giới này. Chúng chỉ làm theo luật của Chúa.
5. Sau giai đoạn giới thiệu ngắn gọn này, hãy yên lặng chờ đợi sự đảm bảo rằng yêu cầu của anh em đươc chấp nhận. Anh em đã cầu xin sự cứu rỗi của thế giới và của chính mình. Anh em đã cầu xin đươc ban cho phương tiện để thực hiện điều này. Anh em không thể không yên tâm về điều này. Anh em chỉ đang cầu xin rằng Ý Chúa được thực hiện.
6. Khi làm điều này, anh em thực sự không yêu cầu bất cứ điều gì. Anh em nêu một sự thật không thể phủ nhận. Thánh Linh không thể không đảm bảo với anh em rằng yêu cầu của anh em đươc chấp nhận. Chính việc anh em đã chấp nhận nên phải là như vậy. Không có chỗ cho sự nghi ngờ và không chắc chắn ngày hôm nay. Cuối cùng, chúng ta đang hỏi một câu hỏi thưc sự. Câu trả lời là một tuyên bố đơn giản về một sự thật đơn giản. Anh em sẽ nhận được sự đảm bảo mà anh em tìm kiếm.
7. Thời gian thực tập ngắn sẽ diễn ra thường xuyên, và cũng sẽ dành cho việc nhắc nhở về một sự thật đơn giản. Hãy thường xuyên nói với chính mình ngày hôm nay:
Ta được quyền có phép lạ.
Hãy yêu cầu chúng bất cứ khi nào có tình huống cần đến chúng. Anh em sẽ nhận ra những tình huống này. Và vì anh em không dựa vào chính mình để tìm thấy phép lạ, nên anh em hoàn toàn có quyền nhận được nó bất cứ khi nào anh em yêu cầu.
8. Cũng hãy nhớ rằng đừng hài lòng với câu trả lời không hoàn hảo. Nhanh chóng nói với chính mình, nếu anh em bị cám dỗ:
Ta sẽ không đổi phép lạ để lấy sự bất bình. Ta chỉ muốn những gì thuộc về ta. Chúa đã thiết lập phép lạ như là quyền của ta.
-Phép lạ không tuân theo luật của thế gian, chúng chỉ tuân theo luật của Chúa. Do đó, phép lạ phản ánh quy luật của vĩnh cửu chứ không phải của thời gian. Chúng vượt ra ngoài quy luật của thế giới.
-Phép lạ là quyền của chúng ta bởi vì bản chất của chúng ta là gì. Chúng ta đồng nhất mình với cái gì sẽ đặt chúng ta theo luật về cách mà chúng ta xác định mình. Chúng ta là ý muốn của Chúa, chúng ta là Vương quốc Thiên đường và chúng ta được quyền có phép lạ.
-Khi phép lạ không xảy ra thì có điều gì đó không ổn, rõ ràng là chúng ta đã quay trở lại chứng mất trí nhớ của cái tôi, chìm vào giấc ngủ. Vậy nên nếu chúng ta sợ hãi thì chúng ta đang tuân theo quy luật của cái tôi.
-Phép lạ chỉ tuân theo luật của Chúa và chúng chi phối chúng ta. Bây giờ chúng ta hiểu tại sao không có gì là không thể và tại sao mọi trở ngại đều được dỡ bỏ cho chúng ta khi chúng ta vẫn hướng về Chúa dù thế nào đi nữa.
1. Trước đây chúng ta đã quan sát thấy có bao nhiêu điều vô nghĩa dường như là sự cứu rỗi đối với anh em. Mỗi điều đã giam cầm anh em bằng những luật lệ vô nghĩa như chính nó. Anh em không bi ràng buộc bởi chúng. Tuy nhiên, để hiểu được điều này là như vậy, trước tiên anh em phải nhận ra sự cứu rỗi không nằm ở đó. Trong khi anh em tìm kiếm nó trong những điều vô nghĩa, anh em tự ràng buộc mình vào những luật lệ vô nghĩa. Vì vậy, anh em tìm cách chứng minh sự cứu rỗi ở nơi nó không có.
2. Hôm nay chúng ta sẽ rất vui vì anh em không thể chứng minh được điều đó. Vì nếu có thể, anh em sẽ mãi mãi tìm kiếm sự cứu rỗi nơi không có, và không bao giờ tìm thấy nó. Ý tưởng của ngày hôm nay một lần nữa cho anh em biết sự cứu rỗi đơn giản như thế nào. Hãy tìm kiếm nó ở nơi nó đang đợi anh em, và ở đó nó sẽ được tìm thấy. Đừng tìm nơi nào khác vì nó không ở đâu khác.
3. Hãy nghĩ đến sự tự do khi nhận ra rằng anh em không bị ràng buộc bởi mọi thứ luật kỳ lạ và méo mó mà anh em đã đặt ra để cứu mình. Anh em thực sự nghĩ rằng anh em sẽ chết đói trừ khi anh em có những chồng tiền giấy và đống tiền xu. Anh em thực sự nghĩ một viên thuốc tròn nhỏ hay một chất lỏng nào đó được đưa vào tĩnh mạch của anh em bằng một mũi kim nhọn sẽ tránh được bệnh tật và cái chết. Anh em thật sự nghĩ rằng anh em cô đơn trừ khi có một cái thân khác ở bên anh em.
4. Thật điên rồ khi nghĩ ra những điều này. Anh em gọi chúng là luật, và đặt chúng dưới những cái tên khác nhau trong một danh mục dài những nghi thức không có tác dụng và không phục vụ mục đích gì. Anh em nghĩ rằng anh em phải tuân theo “luật” của y học, kinh tế học và sức khỏe. Bảo vệ cái thân, và anh em sẽ được cứu.
5. Đây không phải là luật, mà là sự điên rồ. Cái thân bị nguy hiểm bởi cái tâm làm tổn thương chính nó. Cái thân khổ đau chỉ để cái tâm không nhìn thấy nó là nạn nhân của chính nó. Khổ đau của cái thân là chiếc mặt nạ mà cái tâm dựng lên để che giấu những gì thực sự khổ đau. Nó sẽ không hiểu nó là kẻ thù của chính nó; rằng nó tấn công chính nó và muốn chết. Chính để thoát khỏi điều này mà “luật” của anh em sẽ cứu cái thân. Chính vì điều này mà anh em nghĩ rằng anh em là một cái thân.
6. Không có luật nào ngoại trừ luật của Chúa. Điều này cần lặp đi lặp lại nhiều lần, cho đến khi anh em nhận ra rằng nó áp dụng cho mọi thứ mà anh em đã tạo ra ngược lại với Ý muốn của Chúa. Phép thuật của anh em không có ý nghĩa gì cả. Những gì nó có ý để cứu lại không tồn tại. Chỉ những gì nó muốn che giấu sẽ cứu anh em.
7. Luật của Chúa không bao giờ có thể thay thế được. Chúng ta sẽ dành ngày hôm để vui mừng vì điều này là như vậy. Đó không còn là sự thật mà chúng ta phải che giấu nữa. Thay vào đó, chúng ta nhận ra rằng đó là sự thật giúp chúng ta được tự do mãi mãi. Phép thuật giam cầm, nhưng luật của Chúa giải thoát. Ánh sáng đã đến bởi vì không có luật nào ngoài luật của Người.
8. Chúng ta sẽ bắt đầu các buổi thưc tập dài ngày hôm nay bằng cách xem lại ngắn gọn các loại “luật” khác nhau mà chúng ta tin rằng mình phải tuân theo. Chẳng hạn, những điều này có thể bao gồm “luật” về dinh dưỡng, tiêm chủng, thuốc men, và bảo vệ cái thân theo vô số cách. Hãy suy nghĩ xa hơn; anh em tin vào “quy luật” của tình bạn, của những mối quan hệ “tốt đẹp” và sự có đi có lại. Có lẽ anh em thậm chí còn nghĩ rằng có những luật đề ra cái gì là của Chúa và cái gì là của anh em. Nhiều “tôn giáo” đã dựa vào điều này. Chúng sẽ không cứu mà nguyền rủa nhân danh Thiên đường. Tuy nhiên, chúng cũng kỳ lạ như những “luật” khác mà anh em cho rằng phải tuân theo để đươc an toàn.
9. Không có luật nào ngoài luật của Chúa. Hôm nay hãy loại bỏ mọi niềm tin ma thuật ngu ngốc và giữ tâm của anh em trong sự im lặng sẵn sàng để nghe Tiếng nói nói lên sự thật với anh em. Anh em sẽ lắng nghe Đấng nói rằng không có sự mất mát nào dưới luật của Chúa. Không có trả cũng không có nhận. Trao đổi không thể thực hiện; không có sự thay thế; và không có gì được thay thế bằng cái gì khác. Luật của Chúa mãi mãi cho đi và không bao giờ lấy đi.
10. Hãy nghe Ngài nói với anh em điều này, và nhận ra sự ngớ ngẩn của những “luật” mà anh em nghĩ đã duy trì thế giới mà anh em nghĩ anh em thấy. Sau đó, hãy lắng nghe thêm. Ngài sẽ nói với anh em nhiều hơn. Về Tình yêu thương mà Cha của anh em dành cho anh em. Về niềm vui bất tận Người ban cho anh em. Về sự khát khao của Người đối với Con Một của Người, được tạo nên làm kênh của Người cho sự tạo dựng; bị từ chối đối với Người bởi niềm tin của anh ấy vào địa ngục.
11. Hôm nay chúng ta hãy mở các kênh của Chúa cho Người, và hãy để Ý muốn của Chúa mở rộng qua chúng ta đến với Con của Người. Như vậy sự tạo dựng được tăng lên vô tận. Tiếng nói của Người sẽ nói với chúng ta về điều này, cũng như về niềm vui trên Thiên đường mà luật của Chúa giữ cho vô hạn mãi mãi. Chúng ta sẽ lặp lại ý tưởng của ngày hôm nay cho đến khi chúng ta đã lắng nghe và hiểu rằng không có luật nào ngoài luật của Chúa. Sau đó, chúng ta sẽ nói với chính mình, như một sự dâng hiến khi buổi thực tập kết thúc:
Ta không theo luật nào ngoài luật của Chúa.
12. Chúng ta sẽ lặp lại sự dâng hiến này thường xuyên nhất có thể ngày hôm y; ít nhất bốn hay năm lần mỗi giờ, cũng như để đáp lại bất kỳ sự cám dỗ nào khiến chúng ta cảm thấy mình phải tuân theo các luật khác trong suốt cả ngày. Đó là lời tuyên bố của chúng ta về sự tự do khỏi mọi nguy hiểm và chuyên chế. Đó là sự thừa nhận của chúng ta rằng Chúa là Cha của chúng ta và Con của Người được cứu.
-Mặc dù bài học không nêu lên luật của Chúa là gì mà chỉ nói rằng ta không nên tin theo luật của cái tôi, nhưng ta cũng có thể xác định luật của Chúa dựa trên bản chất của Chúa. Chúa là tình yêu, vì vậy tạo phẩm của Người phải là tình yêu thương và không thể là gì khác. Vì Chúa là vô hạn và vĩnh cửu, do đó những gì Người tạo ra cũng phải vĩnh cửu và vô hạn. Chúa là tình thần, mọi thứ Người tạo ta phải là tinh thần, không phải vật chất và không thể suy tàn và giới hạn. Chúa không biết đến tội lỗi, vì vậy chúng ta vô tội.
-Chỉ có cái tâm bị bệnh và phóng chiếu điều này lên cái thân. Trong khi ta tin mình là cái thân, ta luôn sợ hãi và tìm cách bảo vệ nó từ những biện pháp của thế gian. Điều này không có nghĩa ta không nên dùng những biện pháp này khi ta vẫn còn tin vào nó, nó chỉ có nghĩa nỗi sợ hãi dẫn đến việc sử dụng chúng mà ta nghĩ có thể cứu chúng ta cần phải được chữa lành cho những niềm tin như vậy.